11:52 Thứ bảy, Ngày 11 Tháng 7 Năm 2020
Gửi cho bạn bè

Tài liệu sinh hoạt chi đoàn tháng 4/2020
Tài liệu sinh hoạt chi đoàn tháng 4/2020

 

TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI ĐOÀN THÁNG 4

NĂM 2020

----------

 

CHUYÊN ĐỀ

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

GẮN VỚI VIỆC XÂY DỰNG TỔ CHỨC ĐOÀN VỮNG MẠNH; MỞ RỘNG MẶT TRẬN ĐOÀN KẾT, TẬP HỢP THANH NIÊN

(Tài liệu dành cho cán bộ đoàn năm 2020, ban hành kèm theo 

Công văn số 4444-CV/TWĐTN-BTG ngày 17 tháng 3 năm 2020 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn)

 

 

Phần thứ nhất

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC ĐOÀN VỮNG MẠNH,

MỞ RỘNG MẶT TRẬN ĐOÀN KẾT, TẬP HỢP THANH NIÊN

 

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm vấn đề tổ chức thanh niên, xuất phát từ sự đánh giá của Người về vai trò và khả năng cách mạng của thanh niên trong tiến trình lịch sử. Người thấy rõ, muốn giải phóng dân tộc, muốn thành công xã hội mới, thanh niên phải được giáo dục, bồi dưỡng và tổ chức lại thành lực lượng, xuất phát từ vai trò, vị trí, quyết định của họ trong cách mạng. Theo Người: “… nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”[1]. Mục đích cuối cùng của việc nhìn nhận, đánh giá đúng vai trò và khả năng cách mạng của thanh niên theo quan điểm Hồ Chí Minh là để tổ chức thanh niên thành lực lượng chính trị hùng hậu của Đảng.

Để phát huy vai trò của thanh niên, Hồ Chí Minhrất coi trọng nhiệm vụtuyên truyền, giáo dục và tổ chức thanh niên. Người viết: “Ở Đông Dương, chúng ta có tất cả những cái mà một dân tộc có thể mong muốn… nhưng chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức”[2].Để đi tới việc thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã hình thành một tổ chức của thanh niên - Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, với tư cách là tiền thân của Đảng. Đây chính là sự thể hiện trong thực tiễn luận điểm quan trọng của Người về hồi sinh thanh niên, thức tỉnh thanh niên không chỉ bằng báo chí, tuyên truyền mà phải tổ chức họ lại, đưa họ ra đấu tranh.

Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh đến xây dựng một tổ chức thanh niên Cộng sản làm cánh tay và đội hậu bị cho Đảng. Trong quan điểm của Người: Đoàn “Là cánh tay đắc lực của Đảng để thực hiện những chủ trương và chính sách cách mạng”[3],trong việc tổ chức và giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đoàn không chỉ là cánh tay mà còn là “…đội hậu bị của Đảng”[4],nghĩa là, Đoàn là một tổ chức chính trị gần Đảng nhất và chỉ lớp người đi sau trong mối quan hệ với lớp chiến sỹ cách mạng đàn anh đi trước.

Về chức năng của Đoàn, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ Đoàn là: Người phụ trách dìu dắt các cháu nhi đồng”. Trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chức năng của Đoàn Thanh niên được thể hiện hoàn chỉnh trong các mối quan hệ cơ bản nhất phản ánh tính chất của Đoàn là “đội xung kích cách mạng”.

Đoàn muốn mạnh thì mỗi thành viên trong tổ chức đều mạnh. Như vậy, rõ ràng chất lượng của tổ chức Đoàn được nâng lên từ chất lượng của từng đoàn viên. Đây chính là mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng đoàn viên trong tổ chức đoàn. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất (2/1950) đã nêu lên vấn đề sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do chạy theo số lượng nên nhiều địa phương đã phát triển theo kiểu “đánh trống ghi tên”. Đại hội đã nghiêm khắc phê phán hiện tượng này và đề ra những chủ trương phải xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn với tư cách là “Một tổ chức trung kiên” của thanh niên có lòng yêu nước, tự nguyện phấn đấu cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc và xây dựng chế độdân chủ nhân dân.

Luận điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng đoàn viên rất rõ ràng. Người nhiều lần khẳng định: “Tổ chức của Đoàn phải rộng hơn Đảng… Cố nhiên, khi kết nạp đoàn viên cần phải lựa chọn cẩn thận những thanh niên tốt”[5]; “Cần phải phát triển Đoàn hơn nữa, nhưng phải chọn lọc cẩn thận, trọng chất lượng hơn số lượng”[6].Như vậy, trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng càng khó khăn phức tạp, Người yêu cầu về chất lượng đoàn viên ngày càng cao hơn.Chất lượng cán bộ, đoàn viên được Hồ Chí Minh xác định trong 5 điều Người dạy đoàn viên, thanh niên trong thư Người gửi cho tuổi trẻ cả nước nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945):

“- Phải luôn nâng cao chí khí cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Không sợ gian khổ, hy sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

- Phải tin tưởng sâu sắc ở lực lượng và trí tuệ của tập thể, của nhân dân. Tăng cường đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau. Nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do.

- Luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị. Chống kiêu căng, tự mãn. Chống lãng phí, xa hoa. Thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh, để giúp nhau cùng tiến bộ mãi.

- Luôn chúý dìu dắt và giáo dục thiếu niên và nhi đồng, làm gương tốt mọi mặt để đàn em noi theo”[7].

Để từng bước hình thành những phẩm chất trên, Hồ Chí Minh yêu cầu từng đoàn viên cần ý thức sâu sắc về vai trò, vị trí của mình trong tổ chức đoàn và trong các tập thể thanh niên để ra sức tu dưỡng, rèn luyện.Ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Theo quan điểm Hồ Chí Minh,Đảng phải trực tiếp lãnh đạo việc xây dựng, củng cố tổ chức đoàn để đoàn trở thành lực lượng tiên phong chiến đấu của thanh niên, đội hậu bị của Đảng và đặt ra yêu cầu cán bộ, đảng viên phải trực tiếp chăm lo xây dựng, củng cố Đoàn. Nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ đảng cấp huyện (tháng 1/1967), Hồ Chí Minh căn dặn chi bộ phải chăm lo xây dựng Đoàn Thanh niên cho thật tốt, vì “Đoàn viên và các đội thanh niên xung phong là cánh tay của chi bộ”[8].

Khi đến thăm các địa phương, đơn vịcơ sở, hoặc thay mặt Trung ương Đảng kêu gọi cán bộ, đảng viên, cũng như khi nhắc tới đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minhthường nhắc tới đoàn viên. Trong lễ chúc mừng Đảng ta 30 tuổi (1/1960), Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương kêu gọi:...toàn thể đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động, bất kỳ ở cương vị nào, làm công việc gì đều phải trau dồi đạo đức cách mạng, tẩy trừ chủ nghĩa cá nhân, cố gắng học tập chính trị, văn hóa và khoa học kỹ thuật, làm tốt công tác kinh tế, tài chính, gương mẫu trong mọi việc làm”[9]. Đối với Người hai khái niệm đảng viên và đoàn viên luôn đi liền với nhau.

Để Đoàn phát triển mạnh mẽ, vững chắc, theo Hồ Chí Minh cần phải phát động phong trào thi đua yêu nước, vì: “Phong trào thi đua yêu nước làm nảy nở ra nhiều thanh niên tích cực và tiên tiến ở các ngành, các nghề. Đó là điều kiện thuận lợi giúp cho Đoàn phát triển mạnh mẽ và vững chắc”[10]. Vì vậy, xây dựng củng cố tổ chức Đoàn không chỉ là giữ sinh hoạt cho đều, nắm được danh sách đoàn viên, thu được đoàn phí, tổ chức học tập lý luận … mà quan trọng nhất là phải thông qua hoạt động thực tiễn, qua phong trào hành động từ đó phát hiện những nhân tố tích cực mà bồi dưỡng, tuyển chọn để đưa vào Đoàn nhằm tăng sức chiến đấu cho Đoàn. Tổ chức đoàn chỉ có thể phát triển và trở thành vững mạnh khi thực hiện tốt vai trò đầu tàu, quy tụ thanh niên tham gia phấn đấu cho mục đích lý tưởng. Người dạy: “Thanh niên phải làm xung phong đến những nơi khó khăn, gian khổ nhất. Nơi nào người khác làm ít kết quả, thanh niên phải xung phong đến làm cho tốt”[11].

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên

Một là, mục tiêu của tổ chức, tập hợp thanh niên là để xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh

Mục tiêu của đoàn kết, tập hợp thanh niên là hình thành một mặt trận rộng lớn, một nhiệm vụ rất quan trọng của Đoàn mà Người luôn căn dặn phải thực hiện cho tốt. Người chỉ ra rằng muốn xây dựng và phát triển Đoàn thành một lực lượng vững chắc trước hết phải đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên, tránh cô độc, hẹp hòi.

Huấn thị tại Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội (27/9/1945) điều đầu tiên Người nêu ra là thanh niên phải hình thành một mặt trận thống nhất. Đầu năm 1946, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Mặt trận đoàn kết thanh niên do Đoàn Thanh niên Cứu quốc làm trụ cột, lấy tên là Tổng đoàn Thanh niên Việt Nam (sau đổi tên là Liên đoàn Thanh niên Việt Nam). Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Vì thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời phụtrách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai - tức là các cháu nhi đồng”[12], nên thanh niên phải được đoàn kết, tập hợp lại.

Hai là, cần phải đưa thanh niên vào các loại hình tổ chức thích hợp để ai cũng được giáo dục, rèn luyện, trưởng thành.

Tại Đại hội xứ Đoàn Thanh niên Cứu quốc Bắc Bộ (25/11/1945), huấn thị với các đại biểu, Hồ Chí Minh phê bình: “Trong tổ chức thanh niên vẫn còn giữ một xu hướng chật hẹp, không bao bọc được nhiều giai tầng, không kéo được đại đa số thanh niên”[13]. Vì lẽ đó, đến đầu năm 1946, Hồ Chí Minh chỉ thị phải hình thành Mặt trận đoàn kết thanh niên.

Năm 1950, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta chuyển sang giai đoạn mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra sáng kiến thành lập các đơn vị thanh niên xung phong công tác mà Người cho rằng đây là nơi tập hợp rộng rãi các đối tượng thanh niên và là trường học thực tiễn của thanh niên. Do sáng kiến độc đáo của Người nên lúc đó các đơn vị thanh niên xung phong công tác còn có tên gọi là Thanh niên xung phong của Bác Hồ. Thanh niên xung phong đã tồn tại và phát triển, trở thanh nơi tập hợp đội viên hoạt động ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước, đảm nhiệm những công việc ở nơi khó khăn gian khổ rất có hiệu quả, đồng thời là môi trường rèn luyện của nhiều thế hệ thanh niên nước ta.

Ba là, yêu cầu về hình thức và phương pháp đoàn kết, tập hợp các tầng lớp thanh niên.

Hồ Chí Minh yêu cầu tổ chức Đoàn các cấp: “Về phần mình, thì Đoàn cần phải nghiên cứu tìm ra những hình thức và phương pháp thích hợp để đoàn kết và tổ chức thanh niên một cách rộng rãi và vững chắc”[14].Theo Người, việc tìm tòi và ứng dụng có hiệu quả những hình thức, phương pháp thích hợp để đoàn kết, tập hợp các tầng lớp thanh niên là một quá trình nghiên cứu khoa học đòi hỏi tinh thần sáng tạo cũng như sự kiên trì, đặc biệt là đi sâu, đi sát thanh niên, hiểu được tâm tư, khát vọng của họ.

Bên cạnh việc tập hợp rộng rãi thanh niên tham gia, các hình thức, phương pháp phải có mục tiêu phấn đấu rõ ràng, có tính ổn định và triển vọng phát triển. Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất của chúng ta”[15], nghĩa là phát huy được lực lượng sẽ tạo ra sức mạnh. Người nhắc nhở cán bộ, đoàn viên “Phải thật thà đoàn kết và hợp tác với anh em thanh niên trong Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam”[16].

Bốn là, phải bảo đảm mối liên hệ thường xuyên, chặt chẽ, mật thiết giữa tổ chức đoàn với đông đảo thanh niên.

Điều kiện quyết định thắng lợi việc mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên theo quan điểm Hồ Chí Minh là: Muốn đoàn kết thì tất cả cán bộ, đoàn viên phải gương mẫu, phải giữ vững đạo đức cách mạng, phải khiêm tốn, cần cù, hăng hái, dũng cảm, “Phải xung phong trong mọi công tác; xung phong là đi trước, làm trước để lôi cuốn quần chúng, chứ không phải là xa rời quần chúng”[17].Và hơn thế muốn thực hiện đoàn kết, tập hợp đông đảo thanh niên, vấn đề sống còn của Đoàn là phải bảo đảm mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết giữa tổ chức đoàn với đông đảo thanh niên, phải bồi dưỡng, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và chất lượng đoàn viên với phương châm “trọng chất hơn lượng”.

Đoàn Thanh niên trước hết là tổ chức của những thanh niên tiên tiến, nhưng Đoàn lại là người đại diện lợi ích chính đáng của thanh niên vì vậy Đoàn cũng là tổ chức của thanh niên, vì thanh niên. Vì vậy, theo Người: Trong hoàn cảnh nào, Đoàn Thanh niên phải củng cố và phát triển hơn nữa”[18], chính là do yêu cầu tự thân của Đoàn. Một tổ chứcquầnchúng, từ quần chúng mà ra thì mối liên hệ với quần chúng là điều kiện tiên quyết để tồn tại và phát triển. Đó là mối quan hệ được xem như là máu thịt.

Theo Hồ Chí Minh: “Muốn củng cố và phát triển, thì Đoàn phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với các tầng lớp thanh niên. Phải quan tâm đến đời sống công tác, học tập của thanh niên”[19]. Mối liên hệ này được thể hiện trên cả hai mặt: Vừa rộng rãi, tức là không bỏ sót một đối tượng nào, lại vừa chặt chẽ. Chặt chẽ ở đây chính là sự gắn bó mật thiết để hiểu được những gì thanh niên đang cần đến Đoàn, đang mong mỏi Đoàn và ngược lại. Nhưng cao hơn thế, không chỉ nắm được, hiểu được mà còn “Phải quan tâm đến đời sống, công tác và học tập của thanh niên”[20]. Người đặt vấn đề đời sống lên trên bởi lẽ thanh niên là lớp người mới bước vào đời, mới bắt đầu xây dựng cho mình cuộc sống tự lập nên họ thường gặp rất nhiều khó khăn; họ cần tìm đến Đoàn như là người bạn đồng hành gần gũi nhất để có thể chiasẻ và giúp đỡ họ. Thanh niên cần được tạo điều kiện để học tập và làm việc. Học tập để tích lũy kiến thức và làm việc để cống hiến. Đó là hai vấn đề mà ởbất cứ ở đâu, hoạt động trên lĩnh vực nào, thanh niên đều cần được giúp đỡ.

Nguồn: doanthanhnien.vn

[1]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.216

[2]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 2, tr.143

[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.439

[4]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.77

[5]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 13, tr.47

[6]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.78

[7]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 14, tr.619

[8]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.278

[9]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr.403

[10]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 13, tr.91

[11]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 13, tr.298

[12]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 13, tr.298

[13]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.122

[14]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.493

[15]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 9, tr.90

[16]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.439

[17]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.440

[18]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr.19

[19]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.493

 

[20]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.439

THEO DÒNG LỊCH SỬ -  NGÀY NÀY NĂM ẤY

 

- 10/3 (Âm lịch): Ngày giỗ tổ Hùng Vương.

- 07/4/1907: Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn.

- 21/4: Ngày sách Việt Nam.

- 23/4: Ngày sách và bản quyền thế giới.

- 25/4/1976: Ngày tổng tuyển cử bầu quốc hội chung của cả nước.

- 27/4/1998: Ngày mất của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh.

- 30/4/1975: Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

- 01/5/1886: Ngày Quốc tế Lao động.

 

Ngày 30/4/1975: NGÀY GIẢI PHÒNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

          Sau một tháng tiến công và nổi dậy, quân dân ta đã giành toàn thắng trong 2 chiến dịch Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, giải phóng hơn nửa đất đai và nửa dân số toàn miền Nam, chiếm giữ một khối lượng lớn vật chất, trang bị, phương tiện chiến tranh. Các lực lượng vũ trang của ta trưởng thành nhanh chóng.

          Nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 25/3/1975 đã quyết định chuẩn bị chiến dịch giải phóng Sài Gòn mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh.

         Ngày 9/4 quân ta tiến công Xuân Lộc, một căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông. Tại đây đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt. Ngày 16/4 quân ta phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở Phan Rang. Ngày 21/4 toàn bộ quân địch ở Xuân Lộc tháo chạy. Cũng ngày này Nguyễn Văn Thiệu đã tuyên bố từ chức Tổng thống.

17 giờ ngày 26/4 quân ta được lệnh nổ súng mở đầu chiến dịch. Tất cả 5 cánh quân từ các hướng vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch tiến vào Sài Gòn.

          Đêm 28 rạng sáng 29/4 tất cả các cánh quân của ta được lệnh đồng loạt tổng công kích vào trung tâm thành phố, đánh chiếm tất cả các cơ quan đầu não của địch.

          9 giờ 30 phút ngày 30/4 Dương Văn Minh vừa lên làm Tổng thống đã kêu gọi “ngừng bắn để điều đình giao chính quyền” nhằm cứu quân ngụy khỏi sụp đổ.

          10giờ 45 phút ngày 30/4 xe tăng của ta tiến thẳng vào dinh Tổng thống ngụy (dinh Độc Lập), bắt sống toàn bộ ngụy quyền Trung ương. Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện. 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc phủ tổng thống ngụy, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Miền Nam được giải phóng, đất nước hoàn toàn độc lập, non sông thu về một mối.

 

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG 1/5

             Ngày Quốc tế lao động, ngày hội của những người lao động toàn thế giới, được tổ chức vào ngày 1- 5 hàng năm.

          Trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động, vấn đề thời gian lao động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội I Quốc tế I họp tại Giơ-ne-vơ tháng 9-1866 vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ trước mắt. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số nơi của nước Anh - nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.

          Phong trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827 đi đôi với sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ.

          Tháng 4 - 1884 tại thành phố công nghiệp lớn Si-ca-gô, Đại hội Liên đoàn lao động Mỹ thông qua Nghị quyết nêu rõ: từ ngày 1 - 5 - 1886 ngày lao động của tất cả công nhân sẽ là 8 giờ.

          Ngày 1 - 5 - 1886, công nhân toàn thành phố Si-ca-gô tiến hành bãi công, 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mittinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ học tập”, cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cùng ngày đó, các Trung tâm công nghiệp ở nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở một số nơi như Niu-Oóc, Pi-Xbớc, Ban-ti-mo, Oa-sinh-tơn… có khoảng 12 vạn rưỡi công nhân giành được quyền làm việc 8 giờ một ngày, khẩu hiệu “Ngày làm việc 8 giờ” trở thành tiếng nói chung của toàn thể giai cấp công nhân. Ở nhiều nơi cảnh sát đã đàn áp các cuộc biểu tình, đặc biệt ở thành phố Si-ca-gô cảnh sát đã tàn sát đẫm máu cuộc đấu tranh, làm hơn một trăm người chết, nhiều thủ lĩnh Công đoàn bị bắt và bị kết án tử hình.

          Mặc dù cuộc bãi công ở Si-ca-gô bị trấn áp, nhưng khí phách anh hùng của công nhân và yêu cầu thiết thực của cuộc đấu tranh đã gây chấn động lớn trong giai cấp công nhân thế giới; công nhân nhiều nước đã đồng tình và hưởng ứng yêu sách của công nhân Si-ca-gô. Vì thế tại Đại hội thành lập Quốc tế II do Ph.Ăng-ghen lãnh đạo họp ngày 14 - 7 - 1889, Đại biểu của giai cấp công nhân thông qua Nghị quyết lấy ngày 01 - 5 hàng năm làm ngày đoàn kết đấu tranh của giai cấp vô sản toàn thế giới.

          Thực hiện Nghị quyết trên, năm 1890 lần đầu tiên ngày Quốc tế lao động 1 - 5 được tổ chức trên quy mô thế giới.

          Ngày 1 - 5 ở các nước xã hội chủ nghĩa, đã coi là ngày mừng thắng lợi đã đạt được, nêu quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ mới và biểu lộ tình đoàn kết với những người lao động các nước khác. Ở các nước thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa, ngày 1 - 5 là ngày biểu dương cho lực lượng lao động, đấu tranh cho hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội.

          Ở Việt Nam, sau khi Đảng cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt Nam cũng lấy ngày 1 - 5 là ngày đoàn kết đấu tranh của mình. Cuộc đấu tranh ngày 1 - 5 - 1930 là một bước ngoặt của cao trào cách mạng 1930 - 1931, từ thành thị đến nông thôn, từ Bắc đến Nam nhiều nơi treo cờ Đảng, tổ chức mittinh, tuần hành thị uy, lần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng và hướng dẫn vận động của Công hội, công nhân ta biểu tình kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1 - 5 đấu tranh đòi quyền lợi, tỏ tình đoàn kết với công nhân lao động thế giới.

          Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám việc kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1 - 5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền đơn. Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông Dương, ngày Quốc tế lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

          Ngày nay, ngày Quốc tế lao động là ngày hội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước ta, ngày đoàn kết giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

                                                                         Nguồn: lichsuvietnam.vn

 

SỔ TAY NGHIỆP VỤ

 

Trong tài liệu sinh hoạt chi Đoàn số tháng 4 năm 2020, chúng tôi xin gửi đến các bạn đoàn viên thanh niên, tổ chức Đoàn trên địa bàn tỉnh “Hướng dẫn về việc thực hiện vay vốn Quỹ Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tỉnh Đắk Nông”:

HƯỚNG DẪN

Về việc thực hiện vay vốn Quỹ Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tỉnh Đắk Nông

------------

Quỹ Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tỉnh Đắk Nông là một tổ chức xã hội; Quỹ được thành lập và hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ, giúp đỡ cho vay ưu đãi đối tượng thanh niên có ý tưởng, phương án khởi nghiệp được các vườn ươm của các trường, các đoàn thể và các hiệp hội giới thiệu qua các cuộc thi tuyển chọn; các cá nhân, doanh nghiệp, các hợp tác xã, tổ hợp tác thanh niên có dự án phát triển các sản phẩm mới trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; các hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc các lĩnh vực công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho nhiều hộ nông dân; sinh viên, nhóm sinh viên của tỉnh hoặc ngoài tỉnh đang theo học tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp trên cả nước có ý tưởng, sáng kiến, phương án khởi nghiệp muốn đầu tư, phát triển tại Đắk Nông.

Căn cứ Quyết định số 1866/QĐ-UBND ngày 22/11/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông về việc cấp giấy phép thành lập Quỹ và công nhận điều lệ tổ chức và hoạt động Quỹ Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tỉnh Đắk Nông; Quyết định số 403/QĐ-UBND ngày 28/3/2019 của UBND tỉnh Đắk Nông về việc thành lập Hội đồng quản lý Quỹ hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tỉnh Đắk Nông;

Căn cứ Hợp đồng ủy thác số 589/2019/HĐ-UTĐT ngày 20/6/2019 giữa Quỹ Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tỉnh Đắk Nông và Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Đắk Nông;

Cơ quan điều hành Quỹ Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tỉnh Đắk Nông hướng dẫn thực hiện vay vốn Quỹ Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tỉnh Đắk Nông, cụ thể như sau:

I. ĐỐI TƯỢNG, CƠ CHẾ CHO VAY

1. Đối tượng cho vay

a. Các doanh nghiệp, Hợp tác xã, Tổ hợp tác thanh niên có dự án phát triển các sản phẩm mới trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

b. Các hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc các lĩnh vực công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho nhiều hộ nông dân.

c. Cá nhân là thanh niên có nhu cầu vay vốn khởi nghiệp, tạo việc làm thông qua hộ gia đình.

2. Cơ chế cho vay:Đối tượng cho vay nêu tại khoản 1, khi vay vốn áp dụng thủ tục, quy trình và sản phẩm cho vay Hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm theo quy định của Chính phủ Chính phủ từng thời kỳ (Hiện tại là Nghị định số 61/2015/NĐ-CP, ngày 09/7/2015 và Nghị định số 74/2019/NĐ-CP ngày 23/9/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2015/NĐ-CP  ngày 09 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm và văn bản số 8055/NHCS-TDSV, ngày 30/10/2019 của Tổng Giám đốc NHCSXH, hướng dẫn về quy trình, thủ tục cho vay giải quyết việc làm).

II. ĐIỀU KIỆN VAY VỐN

1.Các doanh nghiệp, các hợp tác xã, tổ hợp tác thanh niên có dự án phát triển các sản phẩm mới trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; Các hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc các lĩnh vực công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho nhiều hộ nông dân (sau đây gọi tắt là cơ sở sản xuất kinh doanh) được vay vốn của Quỹ khi đáp ứng các điều kiện sau:

- Đáp ứng quy định tại Điều 4, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh có dự án phát triển sản phẩm mới trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ: Có dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi tại địa phương phù hợp với ngành nghề sản xuất kinh doanh, duy trì và tạo việc làm cho lao động làm việc ổn định, khai thác các loại sản phẩm trí tuệ quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ hoặc Công nghệ mới quy định tại Luật chuyển giao công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới theo quy định của Chính phủ.

- Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc các lĩnh vực công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho nhiều hộ nông dân: có dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi tại địa phương phù hợp với ngành nghề sản xuất kinh doanh, duy trì và tạo việc làm cho lao động làm việc ổn định, tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho nhiều hộ nông dân theo quy định của Chính phủ.

- Đảm bảo nguồn vốn chủ sở hữu tham gia dự án, phương án sản xuất kinh doanh tối thiểu 30%/tổng vốn đầu tư để thực hiện dự án, phương án sản xuất, kinh doanh và đảm bảo đủ nguồn vốn để thực hiện dự án, phương án sản xuất kinh doanh;

- Dự án vay vốn có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nơi thực hiện dự án.

- Đáp ứng các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Ngân hàng Chính sách xã hội và quy định của Pháp luật.

2. Người lao động là Thanh niên khởi nghiệp vay vốn

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

- Có nhu cầu vay vốn để tự tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm, có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nơi thực hiện dự án;

- Cư trú hợp pháp tại địa phương nơi thực hiện dự án. 

III. MỨC CHO VAY, THỜI HẠN VAY VỐN, LÃI SUẤT CHO VAY

1. Mức cho vay tối đa

Theo quy định của Chính phủ từng thời kỳ (hiện tại thực hiện theo Nghị định số 74/2019/NĐ-CP, ngày 23/9/2019 là đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, mức vay tối đa là 02 tỷ đồng/dự án và không quá 100 triệu đồng cho 01 người lao động được tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; Đối với người lao động, mức vay tối đa là 100 triệu đồng; Mức vay cụ thể do Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét căn cứ vào nguồn vốn, chu kỳ sản xuất, kinh doanh, khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn để thỏa thuận với đối tượng vay vốn);Khi Chính phủ thay đổi mức cho vay tối đa thì thực hiện theo quy định mới của Chính phủ. 

2. Thời hạn vay vốn

Theo quy định của Chính phủ từng thời kỳ (hiện tại theo Nghị định số 74/2019/NĐ-CP, ngày 23/9/2019 quy định thời hạn vay vốn tối đa 120 tháng). Thời hạn vay vốn cụ thể do Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét căn cứ vào nguồn vốn, chu kỳ sản xuất, kinh doanh, khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn để thỏa thuận với đối tượng vay vốn; Khi Chính phủ thay thời hạn cho vay tối đa thì thực hiện theo quy định mới của Chính phủ.

3. Lãi suất cho vay

 - Áp dụng mức lãi suất cho vay theo quy định của Chính phủ từng thời kỳ, (hiện tại là 7,92%/năm); Khi Chính phủ thay đổi lãi suất cho vay thì thực hiện theo quy định mới của Chính phủ.

 - Lãi suất nợ quá hạn: bằng (=) 130% so với lãi suất trong hạn.

IV. ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO TIỀN VAY, PHƯƠNG THỨC CHO VAY, THẨM ĐỊNH, PHÊ DUYỆT HỒ SƠ VAY VỐN

1. Điều kiện đảm bảo tiền vay

Theo quy định của Chính phủ tại Nghị định số 74/2019/NĐ-CP, ngày 23/9/2019, cụ thể đối với mức vay từ 100 triệu đồng trở lên, cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm. Khi Chính phủ thay đổi điều kiện đảm bảo tiền vay thì thực hiện theo quy định mới của Chính phủ.

2. Phương thức cho vay

Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh cho vay trực tiếp tại trụ sở chi nhánh NHCSXH tỉnh hoặc trụ sở Phòng giao dịch NHCSXH cấp huyện; Đối với người lao động là thanh niên khởi nghiệp thì NHCSXH thực hiện cho vay ủy thác một số nội dung công việc trong quy trình cho vay cho các tổ chức chính trị - xã hội theo quy định hiện hành của NHCSXH.

3. Thẩm quyền phê duyệt hồ sơ cho vay

- Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ vay vốn, NHCSXH nơi cho vay tổ chức thẩm định, trình Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ xem xét, phê duyệt.

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ trình duyệt, Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ xem xét, phê duyệt. Nếu không ra quyết định phê duyệt thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do để NHCSXH nơi cho vay thông báo cho người vay.

- Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ phê duyệt mức cho vay trên cơ sở đề xuất của Giám đốc NHCSXH nơi cho vay.

V. THỦ TỤC VÀ QUY TRÌNH CHO VAY

1. Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh

- Hồ sơ vay vốn (02 bộ) gồm:

- Dự án vay vốn có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nơi thực hiện dự án theo Mẫu số 2 ban hành kèm theo Nghị định số 74/2019/NĐ-CP ngày 23/9/2019 của Chính phủ;

- Bản sao một trong các giấy tờ sau: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã; hợp đồng hợp tác; giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh;

Riêng Tổ hợp tác và Hộ kinh doanh có từ hai thành viên trở lên: văn bản ủy quyền có công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp xã do các thành viên ủy quyền cho một thành viên là người đại diện thực hiện giao dịch liên quan đến vay vốn tại NHCSXH.

- Giấy tờ chứng minh cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc đối tuợng ưu tiên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 12 Luật việc làm (nếu có), bao gồm:

+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật: Bản sao Quyết định về việc công nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cấp;

+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người dân tộc thiểu số: Danh sách lao động là người dân tộc thiểu số, bản sao chứng minh nhân dân hoặc sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú và bản sao hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng của những người lao động trong danh sách;

+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật và người dân tộc thiểu số: Danh sách lao động là người khuyết tật và người dân tộc thiểu số, bản sao giấy xác nhận khuyết tật của những người lao động là người khuyết tật do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp, bản sao chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của những người lao động là người dân tộc thiểu số và bản sao hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng của những người lao động trong danh sách.

Báo cáo tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 02 năm liền kề và báo cáo nhanh về tình hình tài chính kể từ đầu năm tài chính đến thời điểm vay vốn. Nếu Doanh nghiệp hoạt động dưới 02 năm thì gửi báo cáo tài chính năm đã hoạt động (nếu có) và báo cáo tài chính kề từ đầu năm tài chính đến thời điểm vay vốn.

+ Giấy tờ chứng minh về tài sản đảm bảo tiền vay trong trường hợp khoản vay phải thực hiện đảm bảo tiền vay theo quy định.

- Quy trình cho vay:

+ Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vay vốn của cơ sở sản xuất kinh doanh, Giám đốc NHCSXH nơi cho vay phân công cán bộ tín dụng thực hiện kiểm tra, đối chiếu tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ vay vốn, lập 02 liên báo cáo thẩm định theo mẫu 05a/GQVL, trình Trưởng phòng Kế hoạch - Nghiệp vụ tín dụng/Tổ trưởng Kế hoạch - Nghiệp vụ tín dụng kiểm soát, trình Giám đốc NHCSXH nơi cho vay xem xét, phê duyệt hồ sơ vay vốn và lập tờ trình mẫu 16/QGVL trình cấp có thẩm quyền quản lý vốn xem xét ra Quyết định cho vay.

+ Sau khi nhận quyết định phê duyệt cho vay của Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ, NHCSXH nơi cho vay phối hợp với Bên vay vốn lập Hợp đồng tín dụng theo mẫu 07a/GQVL. Trường hợp phải thực hiện đảm bảo tiền vay thì NHCSXH nơi cho vay cùng với Bên vay lập hợp đồng đảm bảo tiền vay và đăng ký biện pháp đảm bảo tiền vay theo quy định của NHCSXH.

Nếu không đủ điều kiện cho vay, Cán bộ NHCSXH nơi cho vay tham mưu Trưởng phòng/Tổ trưởng tín dụng trình Giám đốc NHCSXH nơi cho vay đề nghị Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ không phê duyệt cho vay đồng thời thông báo cho cơ sở sản xuất kinh doanh biết.

2. Đối với người lao động là Thanh niên khởi nghiệp

- Hồ sơ vay vốn (02 bộ) gồm: Giấy đề nghị vay vốn có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc cư trú hợp pháp; thuộc đối tượng ưu tiên quy định tại điểm b khoản 2 Điều 12 Luật việc làm (nếu có) theo Mẫu số 1a ban hành kèm theo Nghị định số 74/2019/NĐ-CP ngày 23/9/2019 của Chính Phủ.

- Quy trình cho vay:

+ Người lao động viết giấy đề nghị vay vốn có xác nhận của UBND cấp xã về nơi cư trú hợp pháp tại địa phương (mẫu số 01a) theo quy định gửi Tổ Tiết kiệm và vay vốn (Tổ TK&VV); Nếu người lao động chưa là thành viên của Tổ TK&VV thì Tổ TK&VV tại thôn, bon, buôn, tổ dân phố nơi cư trú hiện nay tổ chức kết nạp bổ sung tổ viên;

+ Tổ TK&VV nhận hồ sơ của người vay, tổ chức họp Tổ để bình xét cho vay, kiểm tra các yếu tố trên hồ sơ vay vốn, sau đó sau đó lập danh sách đề nghị vay vốn NHCSXH the mẫu 03/TD kèm Giấy đề nghị vay vốn trình UBND cấp xã xác nhận, sau đó gửi đến NHCSXH nơi cho vay.

+ Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vay vốn, Giám đốc NHCSXH nơi cho vay phân công cán bộ thực hiện việc kiểm tra đối chiếu tính hợp pháp, hợp lệ của bộ hồ sơ vay vốn, trình Trưởng phòng (Tổ trưởng) tín dụng kiểm soát, sau đó trình Giám đốc NHCSXH nơi cho vay ký duyệt trên danh sách mẫu số 03/TD và lập tờ trình theo mẫu 16/GQVL để trình Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ ban hành quyết định cho vay.

+ Sau khi có Quyết định phê duyệt cho vay, cán bộ NHCSXH nơi cho vay được phân công hướng dẫn người vay lập Hợp đồng tín dụng theo mẫu 07b/QGLV trình Giám đốc phê duyệt giải ngân. Sau khi phê duyệt, NHCSXH nơi cho vay lập thông báo kết quả phê duyệt giải ngân (mẫu số 04/TD) gửi UBND cấp xã để thông báo cho tổ chức chính trị xã hội cấp xã để thông báo cho Tổ TK&VV thông báo đến người vay đến Điểm giao dịch xã hoặc trụ sở Ngân hàng làm thủ tục nhận tiền vay.

Cơ quan điều hành Quỹ Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tỉnh Đắk Nông, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn đề nghị các Huyện, Thành đoàn sử dụng nguồn vốn vay chủ động phối hợp với Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội và các ngành chức năng địa phương nghiêm túc thực hiện Hướng dẫn trên và triển khai tới các cấp bộ Đoàn. Trong quá trình triển khai thực hiện có vấn đề vướng mắc cần trao đổi, giải đáp vui lòng liện hệ về Ban Phong trào Tỉnh đoàn Đắk Nông, đường Quang Trung, Thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Điện thoại 02613.548.142./.

Trên đây là hướng dẫn về việc thực hiện vay vốn Quỹ Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tỉnh Đắk Nông của Cơ quan điều hành Quỹ thanh niên khởi nghiệp tỉnh Đắk Nông.

 

MÔ HÌNH HAY - GƯƠNG ĐIỂN HÌNH

Cô học trò giàu nghị lực

Nhắc đến Trần Thị Minh Anh, cô học trò của trường Trung học phổ thông Trường Chinh, huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông, thầy cô và bạn bè không khỏi cảm phục, yêu mến bởi nghị lực bền bỉ, ý chí quyết tâm vượt khó của em.

Là con thứ hai trong một gia đình có 5 chị em, nhà nghèo, đông con nên bố mẹ Minh Anh phải làm đủ mọi nghề để có thể lo cho các con cái ăn, cái mặc và được cắp sách đến trường như bạn bè cùng trang lứa. Cũng bởi cái nghèo đeo đẳng mà gia đình em đến nay vẫn sống trong một căn nhà thuê với diện tích vỏn vẹn 15m2. Thấu hiểu những nỗi nhọc nhằn, vất vả của cha mẹ, ngoài giờ học, Minh Anh lại ra chợ phụ giúp mẹ bán rau. Tan chợ, em tiếp tục các công việc dọn dẹp nhà cửa, cơm nước, chăm sóc các em, kèm cặp các em học bài. Khi hoàn thành tất cả công việc ấy, em mới có thời gian để chuẩn bị bài vở của mình. Bận rộn là thế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, vất vả là thế nhưng Minh Anh không hề tự ti, nản chí. Suốt 12 năm học qua, em luôn là học sinh giỏi toàn diện, đặc biệt là đạt các giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi Lịch sử.

Minh Anh cho biết, em yêu thích môn Lịch sử vì thông qua môn học này, em như được “quay ngược thời gian” để trở về quá khứ, tìm hiểu tiến trình phát triển của nhân loại, đặc biệt là biết tới những trang sử hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, qua đó bồi đắp thêm lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc. Từ niềm yêu thích, say mê đó, được sự định hướng, quan tâm của các thầy cô và quyết tâm không ngừng nghỉ của bản thân, em đã giành được nhiều giải thưởng trong các kỳ thi như: Huy chương vàng Olympic môn Lịch sử cấp tỉnh năm học 2016 - 2017; Huy chương vàng Olympic môn Lịch sử cấp khu vực phía Nam năm học 2016 - 2017; giải nhì học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử năm học 2017 - 2018; học sinh giỏi cấp tỉnh môn Lịch sử năm học 2017 - 2018. Với những thành tích xuất sắc đó, Minh Anh là một trong 27 cá nhân điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo lời Bác giai đoạn 2016 - 2018 được Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Đắk Nông khen tặng.

Nói đến Minh Anh, các bạn cùng lớp em luôn thể hiện sự khâm phục và tình cảm yêu mến dành cho em. Các bạn cho biết, ngoài việc có thành tích học tập tốt, em còn là một học sinh gương mẫu, tích cực tham gia các hoạt động phong trào của nhà trường, các phong trào do các cấp Đoàn phát động, tổ chức. Học giỏi nhưng không hề tự kiêu, Minh Anh luôn hòa đồng, đoàn kết với bạn bè, luôn giúp đỡ các bạn học chưa tốt trong lớp để giúp bạn cùng tiến bộ.

Chỉ còn hơn một tháng nữa, cô học trò nhỏ giàu nghị lực Minh Anh sẽ bước vào kỳ thi quan trọng - kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia. Minh Anh chia sẻ, em sẽ quyết tâm, nỗ lực hết sức để thi đậu vào ngành Du lịch của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh để sau này có cơ hội quảng bá, giới thiệu về các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh của Việt Nam đến với bè bạn khắp thế giới.

Với ý chí, quyết tâm và nỗ lực vượt khó, vượt qua hoàn cảnh của mình, tin chắc rằng, Minh Anh sẽ đạt được ước mơ thật đẹp của mình, xứng đáng là tấm gương sáng trong học tập, rèn luyện, trong việc học tập theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác Hồ kính yêu.

                                                                                              Thu Hà

Nguồn: Gương điển hình tiên tiến làm theo Lời Bác (giai đoạn 2016 - 2019)

 

CHUNG TAY PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH COVID-19

* Bộ Y tế khuyến cáo 10 biện pháp đơn giản để phòng, chống dịch COVID-19 hiệu quả:

1- Không đi ra ngoài khi không thật sự cần thiết. Không tập trung quá 2 người tại nơi công cộng.

2- Luôn đeo khẩu trang khi đi ra ngoài kể cả khi làm việc; luôn đứng cách xa người khác 2 mét.

3- Luôn rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chảy hoặc bằng dung dịch sát khuẩn nhất là sau khi sờ tay vào bất cứ vật dụng nào và sau khi gặp, nói chuyện với người khác và khi về nhà.

4- Không bắt tay khi gặp người khác, không đưa tay lên mắt, mũi miệng.

5- Thường xuyên súc miệng bằng nước muối hoặc nước súc miệng; giữ ấm vùng ngực cổ, uống nước ấm. Thay quần áo khi về nhà và quần áo thay ra cần được ngâm với xà phòng.

6- Ăn uống đủ chất, ăn chín, uống chín, tập luyện thể thao phù hợp, sinh hoạt lành mạnh. Thường xuyên vệ sinh, giữ thông thoáng nhà cửa, lau rửa các bề mặt hay tiếp xúc.

7 - Nếu phải cách ly thì phải ở nhà, hạn chế gặp người trong nhà, thực hiện theo các hướng dẫn cách ly của cơ quan y tế.

8 - Không nên đến cơ sở y tế nếu không phải cấp cứu. Hãy hỏi cán bộ y tế bằng điện thoại hoặc qua mạng trước khi muốn đi khám bệnh.

9- Khai báo y tế qua ứng dụng (https://ncovi.vn) cho mình và cho người thân trong nhà; theo dõi sức khỏe hàng ngày và báo ngay cho cơ quan y tế hoặc trên ứng dụng NCOVI.

 

10 - Không mời khách đến nhà và cũng không nên đến nhà người khác. Cuộc sống sẽ còn nhiều dịp để gặp nhau.

* CÁC CẤP BỘ ĐOÀN, HỘI NGHIÊM TÚC THỰC HIỆN CHỈ THỊ VỀ CÔNG TÁC CÁCH LY XÃ HỘI:

 

Video

Liên kết website

Thống kê

Đang có 21 khách và không thành viên đang online